Mỹ phẩm thông thường — kem dưỡng, sữa rửa mặt, dầu gội, son, nước hoa, tinh dầu — được đăng ký nhãn hiệu ở nhóm 3 của Bảng phân loại Nice. Sản phẩm có tính chất dược, như chế phẩm dùng trong y tế, thực phẩm bổ sung, chế phẩm vệ sinh có tác dụng diệt khuẩn, nằm ở nhóm 5. Thương hiệu kèm spa hay thẩm mỹ viện cần thêm nhóm 44 cho dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, còn bán hàng qua cửa hàng riêng thì cân nhắc nhóm 35.
Khó khăn thật của ngành không nằm ở việc chọn nhóm mà ở hai chỗ khác. Thứ nhất là cái tên: mỹ phẩm hay được đặt tên gợi công dụng ("Trắng", "Mụn", "Nám", "Collagen", "White"), nhiều tên vừa mô tả vừa có nguy cơ gây hiểu lầm về tính năng. Thứ hai là mô hình gia công: thương hiệu đặt xưởng sản xuất, và không ít trường hợp chính xưởng hoặc nhà phân phối nộp đơn nhãn hiệu trước chủ thương hiệu.
Bài này đi qua từng điểm đó, kèm ranh giới giữa nhãn hiệu và phiếu công bố mỹ phẩm — hai thủ tục khác hẳn nhau mà nhiều chủ thương hiệu tưởng là một.
Nhóm 3 hay nhóm 5: ranh giới nằm ở công dụng tuyên bố
Bảng phân loại Nice chia theo chức năng của sản phẩm. Nhóm 3 dành cho chế phẩm làm sạch, làm đẹp, tạo hương không có tác dụng chữa bệnh: mỹ phẩm, chế phẩm chăm sóc da và tóc, nước hoa, tinh dầu, chế phẩm vệ sinh răng miệng không có dược tính. Nhóm 5 dành cho dược phẩm, chế phẩm y tế, thực phẩm bổ sung dinh dưỡng, chế phẩm có dược tính dùng cho da và tóc. Nếu sản phẩm được mô tả là "có dược tính" hoặc mang công dụng điều trị, nó trượt sang nhóm 5.
Ranh giới này quan trọng vì hai lý do. Lý do thứ nhất là phạm vi bảo hộ: văn bằng ở nhóm 3 không tự động ngăn người khác dùng tên giống bạn cho thực phẩm chức năng làm đẹp ở nhóm 5, dù trên thực tế người tiêu dùng có thể nghĩ là cùng hãng. Lý do thứ hai là tính nhất quán với hồ sơ quản lý chuyên ngành: một sản phẩm công bố là mỹ phẩm mà nhãn hiệu lại đăng ký kèm mô tả có tính chất dược có thể làm nảy sinh câu hỏi về cách bạn định vị sản phẩm.
Đa số thương hiệu chăm sóc da nội địa nên lấy nhóm 3 làm trục. Nhóm 5 đáng thêm vào khi doanh nghiệp có hoặc sắp có viên uống làm đẹp, collagen dạng uống, sản phẩm vệ sinh phụ nữ có tính dược — những dòng ngày càng phổ biến trong danh mục của các thương hiệu làm đẹp. Nhóm 21 (dụng cụ trang điểm, bông tẩy trang, cọ, bình xịt rỗng) và nhóm 8 (dụng cụ cắt sửa móng, kẹp mi) là phần phụ, chỉ cần khi bạn bán chúng dưới chính nhãn hiệu.
Với spa, thẩm mỹ viện, salon tóc, nhóm 44 là trục chính, nhóm 3 là phần mở rộng nếu spa bán sản phẩm mang tên riêng. Nhiều chuỗi spa phát hiện quá muộn rằng tên mình đã được người khác đăng ký ở nhóm 3 cho mỹ phẩm, và từ đó không thể ra dòng sản phẩm cùng tên.
Tên mỹ phẩm bị từ chối: mô tả, gây hiểu lầm và từ chung của ngành
Từ chỉ công dụng hoặc thành phần. "Whitening", "Acne", "Hydra", "Collagen", "Vitamin C", "Trà xanh", "Nghệ" mô tả trực tiếp chức năng hoặc thành phần. Thẩm định viên thường yêu cầu không bảo hộ riêng những yếu tố này. Một nhãn hiệu như "Lumi Collagen" vẫn có thể được cấp, nhưng độc quyền thực chất chỉ nằm ở "Lumi".
Tên gợi công dụng điều trị mà sản phẩm không có. Dấu hiệu gây hiểu sai về tính chất, công dụng hay chất lượng của hàng hoá có thể bị từ chối. Đặt cho một loại kem dưỡng thông thường cái tên ngụ ý trị bệnh da liễu là rủi ro kép: rủi ro nhãn hiệu, và rủi ro với quy định quảng cáo, công bố mỹ phẩm vốn không cho mỹ phẩm tuyên bố công dụng như thuốc.
Tiền tố, hậu tố phổ biến của ngành. "Derma", "Skin", "Lab", "Beauty", "Cos", "Care", "-ology" xuất hiện trong rất nhiều đơn. Hai nhãn hiệu chỉ khác nhau ở những mảnh này dễ bị coi là tương tự nếu phần còn lại gần nhau, và một nhãn hiệu xây chủ yếu trên chúng thì yếu ngay từ gốc.
Tên mượn uy tín xuất xứ. Tên kiểu Pháp, Hàn, Nhật cho sản phẩm sản xuất trong nước không bị cấm tự thân, nhưng nếu dấu hiệu kèm địa danh hoặc hình ảnh khiến người mua tin sản phẩm đến từ nước đó, nó có thể bị coi là gây hiểu sai về nguồn gốc. Cách an toàn là dùng từ tự tạo có âm hưởng, không dùng địa danh hay cụm "Paris", "Seoul".
Tên người mẫu, người nổi tiếng, chuyên gia. Không dùng được tên, hình ảnh của người khác khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản. Với thương hiệu do người có ảnh hưởng sáng lập, cần xác định ngay ai sở hữu nhãn hiệu mang tên người đó khi quan hệ hợp tác kết thúc.
Gia công mỹ phẩm: ai đứng tên nhãn hiệu và chuyện xưởng nộp đơn trước
Phần lớn thương hiệu mỹ phẩm mới ở Việt Nam không tự sản xuất mà đặt gia công tại nhà máy đủ điều kiện, trong nước hoặc nước ngoài. Mô hình này tạo ra một rủi ro đặc thù: xưởng gia công, nhà cung cấp bao bì hay nhà phân phối độc quyền biết tên thương hiệu từ rất sớm, thậm chí trước khi sản phẩm ra mắt, và có điều kiện để nộp đơn trước. Rủi ro tăng lên khi thương hiệu bắt đầu bán chạy và quan hệ hợp tác có dấu hiệu rạn nứt.
Nguyên tắc phòng ngừa đơn giản: nộp đơn nhãn hiệu trước khi gửi bản thiết kế bao bì cho xưởng. Hợp đồng gia công nên ghi rõ nhãn hiệu, thiết kế bao bì, công thức (nếu do bên đặt hàng cung cấp) thuộc về bên đặt hàng; xưởng không được đăng ký, sử dụng hay cung cấp sản phẩm cùng nhãn hiệu cho bên thứ ba; khi chấm dứt hợp đồng, xưởng phải huỷ hoặc trả lại bao bì tồn. Với xưởng ở nước ngoài, nên đăng ký nhãn hiệu cả tại nước có nhà máy, vì đơn của xưởng ở chính nước họ sẽ cản trở việc bạn chuyển sang nhà máy khác hay xuất khẩu từ đó.
Trường hợp ngược lại cũng xảy ra: thương hiệu nhập khẩu mỹ phẩm nước ngoài, nhà phân phối Việt tự nộp đơn nhãn hiệu của hãng tại Việt Nam để "giữ chỗ". Pháp luật Việt Nam cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu ở nước thành viên Công ước Paris yêu cầu huỷ bỏ văn bằng cấp cho người đại diện, đại lý đăng ký nhãn hiệu của họ mà không được phép. Dù vậy, con đường này tốn thời gian; nhà phân phối có thiện chí nên để hãng tự đứng tên và ghi quyền phân phối trong hợp đồng, còn hãng nên nộp đơn trước khi tìm nhà phân phối.
Nếu công thức do xưởng phát triển (mô hình ODM), quyền đối với công thức và quyền nhãn hiệu là hai chuyện tách rời. Bạn có thể sở hữu nhãn hiệu nhưng không sở hữu công thức; khi đổi xưởng, sản phẩm mới mang cùng tên có thể không giống hệt sản phẩm cũ. Đây là vấn đề hợp đồng cần thương lượng từ đầu, không phải vấn đề nhãn hiệu.
Nhãn hiệu, phiếu công bố và kiểu dáng bao bì: ba thứ khác nhau
Nhiều chủ thương hiệu tin rằng có phiếu công bố mỹ phẩm là đã "đăng ký thương hiệu". Thực tế ba thủ tục dưới đây phục vụ ba mục đích, do các cơ quan khác nhau quản lý và không thay thế được cho nhau.
| Tiêu chí | Nhãn hiệu | Phiếu công bố mỹ phẩm | Kiểu dáng công nghiệp |
|---|---|---|---|
| Mục đích | Độc quyền dùng dấu hiệu phân biệt nguồn gốc | Được phép lưu hành sản phẩm trên thị trường | Độc quyền hình dáng bên ngoài của chai, hộp |
| Cơ quan | Cục Sở hữu trí tuệ | Cơ quan quản lý mỹ phẩm theo quy định hiện hành | Cục Sở hữu trí tuệ |
| Ngăn được người khác dùng tên | Có | Không | Không |
| Ngăn được người khác sao chép chai lọ | Chỉ khi hình dáng được đăng ký là nhãn hiệu ba chiều | Không | Có, nếu mới và có tính sáng tạo |
| Điều kiện then chốt | Khả năng phân biệt, không trùng nhãn hiệu có trước | Hồ sơ sản phẩm, điều kiện sản xuất, thành phần hợp lệ | Tính mới, sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp |
Phiếu công bố ghi tên nhãn hàng không có nghĩa tên đó được bảo hộ; hai doanh nghiệp vẫn có thể cùng công bố sản phẩm mang tên giống nhau, và người có văn bằng nhãn hiệu có thể yêu cầu bên kia ngừng sử dụng. Ngược lại, có văn bằng nhãn hiệu cũng không cho phép bán một sản phẩm chưa công bố. Với thương hiệu đầu tư mạnh vào thiết kế chai lọ đặc trưng, kiểu dáng công nghiệp là lớp bảo vệ nên tính đến, và phải nộp trước khi tung sản phẩm ra công chúng vì tính mới bị mất khi kiểu dáng đã bộc lộ.
Lập danh mục và kế hoạch đăng ký cho một thương hiệu chăm sóc da
Ví dụ giả định: một thương hiệu chăm sóc da mới, bán qua sàn thương mại điện tử và mạng xã hội, có kế hoạch mở hai spa trong hai năm và một dòng viên uống làm đẹp. Trình tự hợp lý như sau:
- Chọn tên cốt lõi là từ tự tạo, không chứa từ chỉ công dụng; các dòng sản phẩm phụ dùng tên mô tả đi kèm ("… Hydrating Serum") mà không cần đăng ký riêng.
- Tra cứu ở nhóm 3, 5, 44 và cả 35; với từ tự tạo, tra thêm biến thể âm đọc và các phiên âm có thể có.
- Nộp đơn nhóm 3 cho mỹ phẩm, chế phẩm chăm sóc da, tóc, cơ thể; nhóm 44 cho dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, spa; nhóm 5 khi kế hoạch viên uống đã chắc chắn.
- Ký hợp đồng gia công có điều khoản sở hữu nhãn hiệu, thiết kế, bao bì tồn; chỉ gửi file thiết kế sau khi đã có số đơn.
- Nếu dự định sản xuất hay xuất khẩu, đăng ký tại nước có nhà máy gia công và thị trường xuất khẩu chính.
- Thiết lập lịch theo dõi công báo sở hữu công nghiệp để phát hiện đơn tương tự ở nhóm 3, 5, 44, nộp ý kiến phản đối khi cần.
Danh mục cụ thể, thuật ngữ được chấp nhận và mức phí từng nhóm thay đổi theo quy định từng thời kỳ; nên đối chiếu với hướng dẫn hiện hành của Cục Sở hữu trí tuệ hoặc hỏi tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp trước khi nộp.
Câu hỏi thường gặp
Bán mỹ phẩm nhập khẩu xách tay có cần đăng ký nhãn hiệu không?
Bạn không thể đăng ký nhãn hiệu của hãng khác dưới tên mình. Nếu bán lại hàng chính hãng, bạn dùng nhãn hiệu của hãng theo nguyên tắc cạn quyền trong phạm vi pháp luật cho phép và phải tuân thủ quy định lưu hành mỹ phẩm. Nhãn hiệu bạn có thể đăng ký là tên cửa hàng của mình, ở nhóm 35 cho dịch vụ bán lẻ.
Thành phần nổi tiếng như "rau má" hay "bơ hạt mỡ" có đưa vào tên được không?
Đưa vào được, nhưng phần đó sẽ không được bảo hộ riêng vì mô tả thành phần. Nếu sản phẩm không thật sự chứa thành phần đó với lượng đáng kể, tên có thể bị coi là gây hiểu lầm. Cách an toàn là để thành phần ở tên dòng sản phẩm, còn tên thương hiệu là yếu tố phân biệt.
Đăng ký nhãn hiệu cho mỹ phẩm handmade bán online có khác doanh nghiệp không?
Về thủ tục nhãn hiệu thì không khác: cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp đều có thể nộp đơn. Khác biệt nằm ở quy định sản xuất và lưu hành mỹ phẩm, vốn có điều kiện riêng về cơ sở sản xuất và công bố sản phẩm. Có văn bằng nhãn hiệu không hợp thức hoá việc bán sản phẩm chưa đáp ứng các điều kiện đó.
Hình chai lọ có đăng ký nhãn hiệu được không?
Được, dưới dạng nhãn hiệu ba chiều, nếu hình dáng có khả năng phân biệt và không phải hình dáng thông thường hay do chức năng quyết định. Chai lọ phổ biến trên thị trường gần như không đạt. Thiết kế mới thường được bảo hộ dễ hơn bằng kiểu dáng công nghiệp, còn nhãn hiệu ba chiều phù hợp với hình dáng đã nổi tiếng gắn với một hãng.
Xưởng gia công đã nộp đơn nhãn hiệu của mình thì làm gì?
Nếu đơn chưa được cấp, nộp ý kiến phản đối kèm chứng cứ: hợp đồng gia công, thư trao đổi, thiết kế có ngày tháng, chứng cứ bạn sử dụng tên trước. Nếu đã cấp văn bằng, có thể yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực với căn cứ nộp đơn không trung thực. Nên được hỗ trợ bởi tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp vì chứng cứ quyết định kết quả.
Thương hiệu mỹ phẩm có nên đăng ký nhóm 35 không?
Chỉ nên khi bạn thật sự vận hành dịch vụ bán lẻ, chẳng hạn chuỗi cửa hàng hoặc trang thương mại điện tử bán cả sản phẩm của hãng khác. Bán sản phẩm của chính mình qua sàn không làm phát sinh nhu cầu bắt buộc phải có nhóm 35, vì việc sử dụng nhãn hiệu trên hàng hoá đã nằm trong nhóm 3.